Ngành nhựa - cao su đang mất dần lợi thế

Đăng lúc: 28-05-2015 - Đã xem: 487

Trong khi đó, theo thống kê của Tổng cục Hải quan, tính chung 10 tháng năm nay, lượng cao su Việt Nam nhập khẩu gần 263 nghìn tấn, tăng 2,3% với trị giá 530 triệu USD, giảm 5,3% so với cùng kỳ năm trước Nghịch lý xuất cao su rồi lại nhập cao su về diễn ra trong bối cảnh thời gian qua khiến người dân nhiều tỉnh, thành ở Tây Nguyên, Nam Bộ phải chặt bỏ cao su vì ế ẩm, chuyển sang cây trồng khác cho thu nhập cao hơn. Một lần nữa, bài toán quy hoạch lại được nhắc tới. Theo Quyết định số 750/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển cao su đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020, mục tiêu phát triển diện tích cây cao su của Việt Nam đến năm 2015 là 800.000ha và giữ diện tích ổn định ở mức này... Nhưng đến thời điểm hiện tại, diện tích cây cao su cả nước đã vượt hơn 155.700 ha so với quy hoạch. Chỉ riêng trong giai đoạn 2009- 2013, diện tích cao su cả nước đã tăng thêm 375.000 ha. VN nhiều năm liền xếp trong Top 3 thế giới về xuất khẩu cao su tự nhiên và là một trong những mặt hàng xuất khẩu đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD (đạt 2,52 tỷ USD trong năm 2013) nhưng vấn đề đặt ra lâu nay đối với ngành này là trên 90% cao su VN đều xuất khẩu dạng nguyên liệu thô. Mặc dù, mục tiêu Việt Nam đề ra là phấn đấu đến năm 2020, công suất chế biến đạt khoảng 40% sản lượng mủ cao su cao cấp, nâng tỷ lệ cao su tinh chế lên thành 50%, duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành lên hơn 10%. Nếu cao su được ví với “vàng trắng” thì than đá vốn được ví với “vàng đen” cũng lâm vào nghịch cảnh tương tự. Theo con số khảo sát gần đây, trữ lượng than còn lại bể than Quảng Ninh vào khoảng 2,3 tỷ tấn, nếu duy trì sản lượng khai thác 40-50 triệu tấn/năm thì chỉ mấy chục năm nữa là hết, nguồn than trong nước cạn kiệt. Chính vì vậy, chủ trương của Chính phủ giao cho Bộ Công thương và Vinacomin thực hiện, từ nay đến năm 2020, ngành than phải nhập khẩu 40-50 triệu tấn, riêng năm 2015-2016, khi các tổ máy ở miền Nam đi vào vận hành, số lượng than phải nhập là 20 triệu tấn. GS.TSKH Nguyễn Quang Thái cho rằng việc vừa xuất khẩu và lại nhập khẩu từ ngay cùng một thị trường cũng là điều bình thường. Cái “không bình thường” chính là tự trách mình, trách các cơ quan nghiên cứu năng lượng và hoạch định chính sách còn chưa có nhiều phân tích, cảnh báo dài hạn và kiến nghị để có chính sách năng lượng quốc gia được hiệu quả và bảo đảm phát triển bền vững. Những mỏ “vàng trắng” , “vàng đen” đang mất dần lợi thế, nếu không thay đổi phương thức khai thác, chế biến và sử dụng thì nhãn tiền “vàng thau lẫn lộn” rất gần!

Các bài viết khác